18. Điệp Chồng Cúng Cho Vợ V
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
竊念、天倫配合、永爲家室之歡、月下成婚、已定和諧之好、相親相愛、敬良人舉案齊眉、宜家宜室、事姑舅孝思盡道、但約百年好合、三生香火夙緣、何期半枕分離、一旦北南異路。
嗚呼、逝水長流、春花急謝、蘭房影寂、蕙帳緣空、珠沉碧海、誰知生寄死歸、月落兌山、倍切情分愛別、爰憑濟度之鴻恩、庶拔靈魂于淨土。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。
惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中鑒知收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
- niệm: Thiên luân1 phối hợp, vĩnh vi gia thất chi hoan; nguyệt hạ thành hôn, dĩ định hòa hài chi hảo; tương thân tương ái, kính lương nhân cử án tề mi;2 nghi gia nghi thất, sự cô cữu hiếu tư tận đạo; đản ước bách niên hảo hợp, Tam Sanh hương hỏa túc duyên;3 hà kỳ bán chẩm phân ly, nhất đán bắc nam dị lộ.
Ô hô ! Thệ thủy trường lưu, xuân hoa cấp tạ; lan phòng4 ảnh tịch, huệ trướng5 duyên không; châu trầm bích hải, thùy tri sanh ký tử quy;6 nguyệt lạc Đoài7 sơn, bội thiết tình phân ái biệt; viên bằng tế độ chi hồng ân, thứ bạt linh hồn vu Tịnh Độ. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.
Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Nép nghĩ ! Ý trời phối hợp, mãi là gia thất hân hoan; trăng dưới thành hôn, đã định hài hòa lành tốt; tương thân tương ái, kính người hiền nâng mâm ngang mày; tròn gia tròn thất, hầu cô cậu hiếu lo trọn đạo; ước sao trăm năm giai lão, ba đời hương hỏa túc duyên; ngờ đâu nửa gối phân ly, một sớm bắc nam nẻo khác.
Than ôi ! Nước mãi trôi đi, hoa xuân sớm rụng; phòng lan bóng vắng, màn huệ duyên không; châu chìm xanh biển, ai hay sanh gởi chết về; trăng rụng non Đoài, càng xót tình chia ái biệt; nương vào cứu độ ơn cao, ngỏ giúp linh hồn về Tịnh Độ. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.
Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Thiên luân (天倫): có hai nghĩa chính. (1) Thứ tự của thiên nhiên, tức chỉ anh em, huynh đệ. Như trong Cốc Lương Truyện (穀梁傳), phần Ẩn Công Nguyên Niên (隱公元年), giải thích rằng: “Huynh đệ, thiên luân dã (兄弟、天倫也, anh em là thiên luân vậy).” Hà Hưu (何休, 129-182) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Huynh tiên đệ hậu, thiên chi luân thứ (兄先弟後、天之倫次, anh trước em sau, là thứ tự của trời đất).” (2) Chỉ chung cho mối quan hệ thân thuộc tự nhiên như cha con, vợ chồng, v.v. (3) Lý trời, ý trời.
- Cử án tề mi (舉案齊眉): nâng mâm cơm cao lên ngang đến lông mày, còn gọi là Mạnh Quang cử án (孟光舉案), tề mi cử án (齊眉舉案). Xưa kia, dưới thời Đông Hán (東漢, 25-220), có bà Mạnh Quang (孟光), vợ của thi nhân Lương Hồng (梁鴻), thường mỗi khi dọn cơm cho chồng thì dâng mâm cơm lên ngang chân mày, tỏ lòng kính trọng tột độ. Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), chương Dật Dân Truyện (逸民傳), phần Lương Hồng (梁鴻), có đoạn rằng: “Mỗi quy, thê vi cụ thực, bất cảm ư Hồng tiền ngưỡng thị, cử án tề mi (每歸、妻爲具食、不敢於鴻前仰視、舉案齊眉, mỗi lần Lương Hồng về nhà, vợ đã chuẩn bị đủ thức ăn, không dám ngước nhìn lên trước mặt Hồng, nên nâng mâm cơm lên đến chân mày).” Từ đó, cụm từ nầy được dùng để chỉ vợ chồng kính trọng nhau như khách quý, nên có từ tương kính như tân (相敬如賓). Cũng nói là Mạnh Quang cử án, tề mi cử án. Vương Tiên Khiêm (王先謙, 1842-1917), nhà kinh học trứ danh cuối thời nhà Thanh, dẫn lời chú thích của Nho gia Thẩm Khâm Hàn (沉欽韓, 1775-1831) rằng: “Cử án cao chí mi, kính chi chí (舉案高至眉、敬之至, nâng mâm cơm cao đến tận chân mày, là kính trọng đến tột cùng).”
- Túc duyên (夙緣): nhân duyên đời trước. Như trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 1, phần Chánh Tông Môn (正宗門), có đoạn: “Nhĩ thời Bà Tu Mật Đa tôn giả, tự tỉnh túc duyên, trí khí xuất gia, du hành chư quốc, quảng tác Phật sự (爾時婆須蜜多尊者、自省夙緣、置器出家、遊行諸國、廣作佛事, lúc bấy giờ tôn giả Bà Tu Mật Đa, tự biết được nhân duyên đời trước, bỏ hết tất cả mà xuất gia, du hành khắp các tiểu quốc, rộng làm Phật sự).” Hay trong Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết (闢妄救略說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1280) quyển 2 lại có đoạn: “Kim dã tương ngộ, phi túc duyên da, nguyện sư từ bi, linh ngã giải thoát (今也相遇、非夙緣耶、願師慈悲、令我解脫, nay đã được gặp, chẳng phải túc duyên chăng, xin thầy từ bi, giúp con giải thoát).”
- Lan phòng (蘭房): có hai nghĩa chính. (1) Căn phòng cao nhã như hoa Lan. Như trong bài Vịnh Hoài (詠懷) thứ 23 của Nguyễn Tịch (阮籍, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Tiên giả tứ ngũ nhân, tiêu dao yến lan phòng (仙者四五人、逍遙晏蘭房, tiên nhân bốn năm người, tiêu dao yến tiệc nơi lan phòng).” (2) Giống như hương khuê (香閨, cổng vòm ngát hương), xưa kia dùng để chỉ phòng thất nơi người nữ ở. Như trong bài Ai Vĩnh Thệ Văn (哀永逝文) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có đoạn: “Ủy lan phòng hề phồn hoa, tập cùng tuyền hề hủ nhưỡng (委蘭房兮繁華,襲窮泉兮朽壤, bỏ lan phòng chừ phồn hoa, xuống tuyền đài chừ đất lạnh).” Lữ Diên Tế (呂延濟, ?-?) nhà Đường chú thích rằng: “Lan phòng, thê thường sở cư thất dã (蘭房、妻嘗所居室也, lan phòng là căn phòng nơi người vợ thường ở).” Hay trong bài thơ Kỳ Thượng Hý Đãng Tử Phụ Thị Hành Sự (淇上戲蕩子婦示行事) của Lưu Hiếu Xước (劉孝綽, 481-539) nhà Lương thời Nam Triều lại có câu: “Nhật ám nhân thanh tĩnh, vi bộ xuất lan phòng (日闇人聲靜、微步出蘭房, trời tối tiếng người vắng, nhẹ bước khỏi lan phòng).”
- Huệ trướng (蕙帳): bức màn huệ, từ mỹ xưng của bức màn. Như trong bài Bắc Sơn Di Văn (北山移文) của Khổng Trĩ Khuê (孔稚珪, 447-501) nhà Tề thời Nam Triều có đoạn: “Huệ trướng không hề dạ hộc oán, sơn nhân khứ hề hiểu viên kinh (蕙帳空兮夜鵠怨、山人去兮曉猿驚, màn huệ vắng chừ ngỗng đêm oán, người núi đi chừ vượn sớm kinh).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 6, bài Điền Tiến Ân Chủ (佃薦恩主), lại có đoạn: “Lan đình hữu lệ bi phong lãnh, huệ trướng sanh trần thảm vụ nùng (蘭庭有淚悲風冷、蕙帳生塵慘霧濃, đình lan nhỏ lệ buồn gió lạnh, màn huệ bụi đầy sương thảm giăng).”
- Sanh ký tử quy (生寄死歸): sống là gởi gắm, chết là quay trở về; biểu thị quan niệm rất nhẹ nhàng, khoáng đạt và ung dung tự tại đối với vấn đề sanh tử. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Tinh Thần Huấn (精神訓), có đoạn rằng: “Ngã thụ mệnh ư thiên, kiệt lực nhi lao vạn dân, sanh ký dã, tử quy dã (我受命於天、竭力而勞萬民、生寄也、死歸也, ta thọ mạng nơi trời, kiệt lực mà lo cho muôn dân, sống là gởi gắm, chết là trở về).” Hay trong Kiến Châu Hoằng Thích Lục (建州弘釋錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1606) quyển Hạ lại có câu: “Sanh ký tử quy, dư kỳ tương quy hĩ (生寄死歸、予其將歸矣, sống gởi chết về, ta sắp trở về đây).” Trong bài Nghĩ Cổ (擬古), có đoạn Lý Bạch (李白, 701-762) diễn tả quan niệm sanh ký tử quy rằng: “Sanh giả vi quá khách, tử giả vi quy nhân, thiên địa nhất nghịch lữ, đồng bi vạn cổ trần (生者爲過客、死者爲歸人、天地一逆旅、同悲萬古塵, sanh ra làm khách qua đường, chết đi là kẻ trở về cố hương, trời đất quán trọ bên đường, đồng thương thân phận ngàn năm bụi mờ).”
- Đoài (兌): tên một trong 8 quẻ, hay 64 quẻ, tượng trưng cho ao hồ. Từ nầy còn được dùng để chỉ phương Tây, như Đoài vức (兌域, nước phía Tây), Đoài ngung (兌隅, vùng phía Tây), Đoài sơn (兌山, non Tây, núi Tây), v.v.